Bài viết của nhạc sĩ Thẩm Oánh: Lược sử hình thành và phát triển tân nhạc Việt Nam


Dưới đây là một trích đoạn trong bài viết được nhạc sĩ Thẩm Oánh đăng trên Tạp chí Bách Khoa, Sài Gòn năm 1963. 

Đây chỉ là bản lược kể về quá trình hoạt động của nền Tân nhạc, qua đó, những vấn đề chi tiết như sáng tác, trình bày,… được nhắc nhở, nói lại nghe chơi ví như câu của cổ nhân từng nói là “ôn cố tri tân” vậy. Chương trình lớn lao hằng nghe đề cập tới nhiều, ý kiến uyên bác của các bậc cao nhân, hàng sư có, hàng sĩ có để xây dựng nên nền tảng âm nhạc hùng vĩ cao siêu đã được giải bày không ít. Tôi (Thẩm Oánh) lòng vẫn như lòng, luôn nhớ kỹ câu “tri kỷ. tri bỉ” nên không dám trống qua cửa nhà sấm. Nhưng vì được hỏi nên xin được mạo muội đóng góp ít lời lẽ dông dài mong mọi người lượng thứ.

Hồi năm 1936 – 1937, vấn đề tân nhạc lại được đặt ra. Nói vậy không phải là vấn đề chẳng hề được nghĩ đến bao giờ, mà trái lại kể từ ngày có tờ báo đầu tiên về âm nhạc là tờ bán nguyệt san Khuyến Nhạc và kế đến là tờ Việt Nhạc, vấn đề đã được đề cập đến nhiều lần. Các chương trình, từ huấn luyện âm nhạc cho đại chúng đến giáo dục âm nhạc thuần túy đều được nêu lên với đầy rẫy phương pháp tổ chức, kế hoạch thực hiện,… để rồi các đoàn thể ai cũng hăng hái hoạt động cho nhạc mới, tạo thành một hiện tượng bành trướng trong mọi tầng lớp thanh niên hồi đó. Bắc cầu quá khứ, nối liền hiện tại, loan truyền đi ý nhạc Việt Nam vang vọng khắp 4 phương trời, vun đắp trên mảnh đất ấy một nhạc đài đồ sộ, nguy nga.



nhac-si-tham-oanh-luoc-su-hinh-thanh-va-phat-trien-tan-nhac-viet-nam (2)

Thực vậy, kể từ thuở sơ khai của nền tân nhạc, lớp thanh niên hiếu nhạc ngoài Bắc đã được hòa mình vào mọi hoạt động của hội Khuyến Nhạc. Từ 1943 – 1948, các lớp xướng nhạc pháp, lớp ca hát phổ thông mở công cộng tại các công viên, lớp đàn (piano, violon) liên tục mở khóa này khóa nọ. Các buổi hòa nhạc với chương trình diễn phối hợp nhạc tây phương với nhạc Việt Nam (cả cổ lẫn cải cách) đều được tổ chức tại nhà hát lớn Hà Nội. Bên cạnh đó, Hội Khuyến Nhạc lại còn thêm các nhóm nhạc khác cũng hoạt động không kém phần tích cực nào là Âm Nhạc Học Xá, Nhạc Đoàn Lê Bảo Tịnh,… ra sức đẩy mạnh cao trào âm nhạc lúc đấy. Rồi tiếp đến sự hoạt động của Ban Việt Nhạc (1948 – 1953), tất cả những điều hữu ích cho sự truyền bá và giáo dục âm nhạc, ban này đều cần cù thực hiện. Đến khi Đài phát thanh Hà Nội được trao trả cho Việt Nam thì nhạc mới đã được phát triển mãnh liệt. Có thể nói, ban Việt Nam khi ấy đã đóng góp khả quan cho sự trưởng thành của nền Tân nhạc Việt Nam. 

Cho tới năm 1954, nền Việt nhạc đã có đà xây dựng cơ sở vững vàng, danh từ “âm nhạc cải cách” được đề nghị xóa bỏ, thay thế bằng “tân nhạc Việt Nam”. Giờ dạy âm nhạc, tức xướng nhạc Pháp ở các trường đã hoàn toàn giảng bằng tiếng Việt, các danh từ chuyên môn cũng được nghiên cứu dịch ra tiếng Việt, sách giáo khoa âm nhạc cũng được soạn bằng tiếng Việt, dùng quen dần cho đến ngày nay.

Ngó về địa hạt sáng tác thì các ca khúc được ấn hành quá nhiều, như bướm nở. Loại nhạc lịch sử, thanh niên hoặc hùng ca được cổ súy mãnh liệt. Trong báo Việt nhạc, mỗi số đều có in ít nhất một bài thuộc thể loại kể trên. Nhưng thính giả lại chỉ thích nghe đàn ca loại du dương, mơ mộng, để các vấn đề gọi là “lành mạnh hóa luồng điện phát thanh” vẫn thỉnh thoảng được đặt ra. Lối trình diễn chia câu bị đào thải dần dần. Đa số phần trình diễn phát thanh khi ấy đều có phần hòa âm. Sổ cương Ban Việt Nam tới năm 1954 đã có trên 2000 bản nhạc được trình diễn phát thanh. Số nhạc sĩ sáng tác dăm bảy người hồi 1937 – 1938 đã lên tới 120 người.

Đến khi di cư vào Nam, tôi mới ngỡ ngàng trước luồng sóng nhạc cuồng nhiệt, vang đội với tiết điệu hăng nồng của loại khiêu vũ giật hân, hầu như muốn bạt cả đi cái gọi là “dân tộc tính”, mà nhạc giới đang cố công gầy dựng. Công cuộc lấy lại tộc tính cho nền tân nhạc hồi đó là cả một vấn đề, do đó đã nảy sinh ra loại “dân ca mambo” lê lết cả một thời gian đằng đẵng.

Định cư xong, con người nghiệp chướng lại hăng hái cần cù cho hoạt động âm nhạc. Hòn ngọc viễn Đông này thực xứng đáng cho sự phát huy âm nhạc. Người ta rất ưng nghe ca nhạc, rất hăm hở đi học nhạc, lớp nhạc nào mở ra xem chừng cũng sống được. Người ta ưng ca những bài Rumba, Mambo, Cha cha cha cho dễ hát, dễ thuộc. Chán tiết điệu này lại có tiết điệu khác thay. Điệu Tango, Habanera có ngán thì liền có điệu Boléro xuất hiện, rồi đến Slow-Rock đang độ thịnh hành. Nếu Twist không bị cấm, thì có lẽ suốt các học đường mọi người đã nhìn thấy những cặp giò “cà tưng nhún nhảy”, thay vì đi từng bước rồi. Câu “đại chúng chỉ ưa thích cái gì mà họ hiểu được”, đã đọc thấy trong số báo trước, phải chăng đã được chứng minh?



nhac-si-tham-oanh-luoc-su-hinh-thanh-va-phat-trien-tan-nhac-viet-nam (1)
Chân dung nhạc sĩ Thẩm Oánh thời trẻ

Thấy nhạc tại miền Nam được hưởng ứng hơn ở ngoài Bắc, con người nhạc sĩ nghiệp chướng bèn lo đề cập đến điểm cao trọng hơn. Khi nghe thấy Đài phát thanh Sài Gòn dự định tổ chức tuần lễ Mozart, trào lưu quốc tế thì nhóm nhạc sĩ di cư bèn hứng lấy phần tổ chức, huy động nhạc giới, xin phép thành lập “Việt Nam Nhạc Hội” để có thể lập luôn Giàn nhạc Đại hòa tấu đầu tiên với hơn 60 nhạc sĩ và rất phục thiện, trao chiếc đũa đầu tiên tới tay một vị nhạc trưởng mới du học ở Pháp về là ông Nguyễn Phụng. Ý nhạc cao trọng của nguồn cổ điển Tây phương được vang vọng dưới khung trời Hòn ngọc viễn đông, dẫn đến sự thành công cho ngành giáo dục âm nhạc đó là xin được mở trường Quốc gia Âm nhạc hiện nay. Vậy nguồn nhạc Tây phương đã có dịp được phổ biến, cũng như sau tuần lễ Mozart lần ấy, hằng năm Việt Nam nhạc hội cũng tổ chức ít buổi hòa nhạc Tây phương. Khi ấy, tôi nghĩ khán giả hiếu nhạc ưng đi dự để xem trình diễn có lưu giữ được ít nhiều kỷ niệm êm vui.

Ngành giáo dục âm nhạc từ năm 1956 đã có hình thức hẳn hoi với trường Quốc gia Âm nhạc chứ không như mấy năm về trước, co quắp và vất vả, thiếu thốn trong khung cảnh của trường Ca vũ nhạc phổ thông, nhỏ bé nhưng đầy nghị lực. Nếu muốn nói về ngôi trường giáo dục âm nhạc đầu tiên sau dịp di cư, thì không thể không nói đến Trường ca vũ nhạc phổ thông. Ngôi trường này đã tiếp nối cho Trường Quốc Gia Âm Nhạc: số nhạc sinh mãn khóa của Trường ca vũ nhạc phổ thông chính là lớp nhạc sinh đầu tiên của Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Đến nay đã có 7 niên học qua đi, thành quả lượm hái được tất cũng có phần đáng kể, kinh nghiệm thực tế với thời gian tất cũng đã có, tương lai nền Việt nhạc tất trông cậy ở nơi đây.

Ngó qua khía cạnh khác, nơi được xem là có nhiều ảnh hưởng về âm nhạc nhất đối với đại chúng, tức Đài Phát Thanh, ta có thể nhận thấy Đài phát thanh dù giải trí hoặc tuyên truyền đều đã đóng góp xứng đáng.

Thực vậy, từ 1955 đến nay, nhất nhất mỗi chiến dịch, mỗi giai đoạn, văn nghệ phát thanh theo đề tài mà sáng tác rất súc tích, kịp thời và phù hợp. Từng đợt, từng đợt, văn nghệ phát thanh đã đi sát với chủ trương, đường lối của Đài trong từng giai đoạn. Ngoài ra, văn nghệ phát thanh còn được khuyến miễn nên tự chỉnh đốn để, trước là giữ lấy dân tộc tính cho bài bản trình diễn của đài, sau là gắng mà “lành mạnh hóa luồng điện phát thanh” theo yêu cầu. Gần đây, văn nghệ phát thanh còn muốn hướng tới một mục đích mới là ca nhạc không phải chỉ để tiêu khiển suông mà cần nhắm đến mục đích giáo dục. Cụ thể, văn nghệ phát thanh phải có tác dụng hữu ích cho dân tộc và còn được dùng làm món gia vị, giúp thực khách là khán thính giả tiêu thụ phần thông tin, bình luận…. một cách dễ dàng nhất. Mục đích mới này, đã giúp văn nghệ phát thanh được nâng lên hàng bậc cao hơn trước kia, để mang lấy giá trị phát thanh, văn nghệ đúng chuẩn. Nhờ chiều hướng mới mà những bài hát cũ xa xưa có một thời được mang ra trình bày lại. Ý nhạc du dương tưởng sẽ được dịp thỏa mãn người nghe. Nhưng, điệp khúc dư luận lại vang ngân, kêu gào đòi có sự lành mạnh và hùng tráng. Văn nghệ phát thanh bèn dung hòa, để gắng giữ lấy cái được gọi là “phẩm chất văn nghệ”,  nhất là cho ngành Tân nhạc.

Món ca nhạc phát thanh cổ cũng như tân, vì quá quen nên kém thiết tha, thế nên tính giả bây giờ lại chuộng lối ngâm thơ óng chuốt để các buổi thi văn được phát thanh nhiều hơn. Nếu xưa người ta nói “Tâm hồn người Việt ta, là tâm hồn thi sĩ”, thì lời nói ấy đã có được sự chứng minh qua lớp thính giả quá đông đảo của các Ban thi văn hoặc ban thi nhạc giao duyên trên làn sóng phát thanh. Thính giả, dù là người Nam, người Trung hay người Bắc, đều thích thú khi nghe bình thơ, nói chuyện về thơ và ít khi khó tính như nghe nhạc. Có lẽ vì người nghe muốn lĩnh hội cái gì êm nhẹ nhằm thoa dịu đi những căng thẳng, mệt nhọc hằng ngày. Còn gì thoải mái hơn trong giờ phút nghỉ ngơi êm ả nhất trong ngày, khi ngoại cảnh cũng bớt đi những tiếng ồn ào, trong căn phòng ấm cúng, mở máy lên, người ta nghe tiếng tiêu óng chuốt, như nỉ non kể lể tâm tình, để tiếp đến là giọng đọc cao cung giới thiệu nguồn thơ kim cổ. Và những áng thơ được chọn lọc đó như phê bình hoa gấm, để cho những giọng điêu luyện ngâm lên. Tiếng đàn điểm giọng chỉ lướt nhẹ nhàng, để tiếng ngâm tròn vành rõ chữ vang lên, người nghe, nếu thuộc thơ sẽ khe khẽ đọc theo và lấy đó làm thích thú.

Phải nói dài dòng chút ít về bộ môn ngâm thơ này, là cốt mong cơ quan phụ trách giáo dục âm nhạc đặc biệt lưu ý, mở thêm lớp dạy ngâm thơ gồm thêm cả thể cách phụ họa của tiêu, nhạc đệm,… Làm sao để cho bộ môn độc đáo này của Việt Nam ta, rất giàu dân tộc tính, sẽ có được phương pháp huấn luyện môn sinh chuyên nghiệp và bài bản. Như thế ngành Việt nhạc sẽ khai thác thêm được một thể điệu tuy xưa mà lại là mới, rất có lợi cho kịch thơ sau này. Vậy địa bàn phổ biến văn nghệ quốc gia cũng có điều mở rộng thêm phạm vị hoạt động.

Quý vị các bạn đọc tới đây tất cũng đã thấy, đây chỉ là bản lược kể quá trình của nền nhạc Việt theo ý kiến riêng. Có đôi ba ý kiến tình cờ được đẩy nhẹ theo lời kể, chẳng qua chỉ vì tiện dòng bút cho lướt theo mà thôi. Như vậy, sự e dè thận trọng trong việc phát biểu ý kiến này tất được coi như là…lạc hậu.



Theo Amnhac.net

Các bài viết khác:
Top 3 tình khúc hay nhất của nhạc sĩ Hoàng Nguyên về Đà Lạt
Top 3 tình khúc hay nhất của nhạc sĩ Hoàng Nguyên về Đà Lạt
[ad_1] Nhắc đến nhạc sĩ Hoàng Nguyên người ta sẽ nhớ ngay đến những tình khúc bất hủ của ông về Đà Lạt, nơi ông đã trao hết tài năng...

Phạm Duy: “Tình hoài hương là sự nhớ nhung của tôi với một nửa mảnh đất quê hương mà tôi vừa phải xa lìa”
Phạm Duy: “Tình hoài hương là sự nhớ nhung của tôi với một nửa mảnh đất quê hương mà tôi vừa phải xa lìa”
[ad_1] CA KHÚC "TÌNH HOÀI HƯƠNG" Tên ca khúc: Tình hoài hương Nhạc sĩ sáng tác: Phạm Duy Thể loại: Nhạc quê hương Năm ra đời: 1952 Ca sĩ thể...

Hoàn cảnh ra đời “Bài Tango cho em”: Nhạc phẩm được “thai nghén” trong men say tình ái
Hoàn cảnh ra đời “Bài Tango cho em”: Nhạc phẩm được “thai nghén” trong men say tình ái
[ad_1] VỀ NHẠC PHẨM BÀI TANGO CHO EM Tên ca khúc: Bài Tango cho em Nhạc sĩ sáng tác: Lam Phương Thể loại: Trữ tình Năm ra đời: Thập niên...

Top 3 ca khúc hay nhất của ca sĩ Anh Tú
Top 3 ca khúc hay nhất của ca sĩ Anh Tú
[ad_1] Ca sĩ Anh Tú là một nghệ sĩ tài năng nhưng vắn số, từng nổi tiếng với những ca khúc nhạc ngoại lời Việt. Nguồn: Internet Ca sĩ Anh...

Ca sĩ Hoàng Oanh và kỷ niệm thời thơ ấu đẹp đẽ với nhạc sĩ Lê Thương
Ca sĩ Hoàng Oanh và kỷ niệm thời thơ ấu đẹp đẽ với nhạc sĩ Lê Thương
[ad_1] Ít ai biết được, danh ca nhạc vàng Hoàng Oanh có mối quan hệ thân thiết với cố nhạc sĩ Lê Thương. Nghệ danh của bà được lấy từ...

Top 5 ca khúc vinh danh người lao động của nhạc sĩ Hoàng Vân
Top 5 ca khúc vinh danh người lao động của nhạc sĩ Hoàng Vân
[ad_1] Nhạc sĩ Hoàng Vân đã dành trọn một đời cho sự nghiệp sáng tác, trong đó, ông cho ra mắt rất nhiều ca khúc truyền thống của các ngành...

Chuyện tình nhạc sĩ Hoàng Trọng: Hạnh phúc đến muộn nhưng nhất định sẽ đến
Chuyện tình nhạc sĩ Hoàng Trọng: Hạnh phúc đến muộn nhưng nhất định sẽ đến
[ad_1] Chặng đường nghệ thuật của nhạc sĩ Hoàng Trọng vô cùng rực rỡ, nhưng đường tình của ông lại trái ngược hoàn toàn. Đến tận cuối đời ông mới...

Vì sao ca sĩ Julie đề nghị nhạc sĩ Phạm Duy đưa con đường Duy Tân vào ca khúc “Trả lại em yêu”?
Vì sao ca sĩ Julie đề nghị nhạc sĩ Phạm Duy đưa con đường Duy Tân vào ca khúc “Trả lại em yêu”?
[ad_1] CA KHÚC "TRẢ LẠI EM YÊU" Tên ca khúc: Trả lại em yêu Nhạc sĩ sáng tác: Phạm Duy Thể loại: Trữ tình Năm ra đời: 1972 Ca sĩ...

Ca khúc “Chiều nay không có em”: Sáng tác đầu tay gắn liền với chuyện tình đẹp của Ngô Thụy Miên và vợ
Ca khúc “Chiều nay không có em”: Sáng tác đầu tay gắn liền với chuyện tình đẹp của Ngô Thụy Miên và vợ
[ad_1] CA KHÚC "CHIỀU NAY KHÔNG CÓ EM" Tên ca khúc: Chiều nay không có em Nhạc sĩ sáng tác: Ngô Thụy Miên Thể loại: Tình ca Năm ra đời:...

Chuyện ít biết về bản nhạc tình hiếm hoi trong sự nghiệp sáng tác của “cây đại thụ” Lưu Hữu Phước
Chuyện ít biết về bản nhạc tình hiếm hoi trong sự nghiệp sáng tác của “cây đại thụ” Lưu Hữu Phước
[ad_1] Phía sau bản nhạc tình "Hương giang dạ khúc" là mối tình qua những cánh thư với cô gái Huế của cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Amnhac.net Nhạc...

“Bây giờ tháng mấy” – Khúc nhạc đầu tay làm nên tên tuổi Từ Công Phụng
“Bây giờ tháng mấy” – Khúc nhạc đầu tay làm nên tên tuổi Từ Công Phụng
[ad_1] CA KHÚC "BÂY GIỜ THÁNG MẤY" Tên ca khúc: Bây giờ tháng mấy Sáng tác: Từ Công Phụng Thể loại: Tình ca Năm ra đời: 1960 Ca sĩ thể...

Nhạc sĩ Song Ngọc: Sống tận hiến với cuộc đời nghệ thuật đầy rực rỡ
Nhạc sĩ Song Ngọc: Sống tận hiến với cuộc đời nghệ thuật đầy rực rỡ
[ad_1] HỒ SƠ TIỂU SỬ NHẠC SĨ SONG NGỌC Tên thật: Nguyễn Ngọc Thương Nghệ danh: Song Ngọc, Hàn Sinh, Nguyên Hà, Hoàng Ngọc Anh, Anh Tuyến và Phương Sinh...

Top 10 bài hát hay nhất của nhạc sĩ Lê Dinh
Top 10 bài hát hay nhất của nhạc sĩ Lê Dinh
[ad_1] Nhạc sĩ Lê Dinh (1934 – 2020) là một trong những tên tuổi lớn của dòng nhạc vàng trước năm 1975 với sức sáng tác bền bỉ và đa...

Ly rượu mừng” của Phạm Đình Chương: “Xuân khúc kinh điển của nền tân nhạc Việt Nam
Ly rượu mừng” của Phạm Đình Chương: “Xuân khúc kinh điển của nền tân nhạc Việt Nam
[ad_1] CA KHÚC "LY RƯỢU MỪNG" Sáng tác: Phạm Đình Chương Thể loại: Nhạc tiền chiến Năm ra đời: 1952 Thu âm: Ban hợp ca Thăng Long Ca khúc "Ly...

Nhạc sĩ Chung Quân: 16 tuổi cho ra đời kiệt tác bất hủ khiến đời sau nhớ mãi
Nhạc sĩ Chung Quân: 16 tuổi cho ra đời kiệt tác bất hủ khiến đời sau nhớ mãi
[ad_1] HỒ SƠ TIỂU SỬ NHẠC SĨ CHUNG QUÂN Tên thật: Nguyễn Đức Tiến Nghệ danh: Chung Quân Năm sinh - năm mất: 1936 - 1988 Quê quán: Hà Nội...