CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA WILTOLD LUTOSLAWSKI (1913-1994)


Âm nhạc Ba Lan nửa sau thế kỷ 20 xuất hiện một nhân vật có nhiều đóng góp vào tiến trình phát triển – nhà soạn nhạc Witold Lutoslawski (1913-1994). Tiếp tục con đường phát triển âm nhạc, ông cùng với Federyk Chopin, Karol Szymanowski trở thành những nhà soạn nhạc nổi tiếng Ba Lan mọi thời đại.

Wiltold Lutoslawski (1913 – 1994)

Sinh ra tại Warsaw vào năm 1913, Lutoslawski đã bộc lộ tài năng âm nhạc từ rất sớm. Năm 1919, Lutoslawski bắt đầu những bài học violin đầu tiên với một cựu học trò của nghệ sỹ violin Joseph Joachim. Có nhiều tài liệu nhắc đến sự kiện năm 1922, khi mới 9 tuổi, cậu bé Lutoslawski đã có chương trình biểu diễn đầu tiên trước công chúng. Với những năng khiếu rõ rệt này, từ năm 1928, cậu đã theo học tại Học viện âm nhạc Warsaw dưới sự hướng dẫn của nhà soạn nhạc Ba Lan Witold Maliszewski, một trong những học trò ưu tú của nhà soạn nhạc Nga Rimsky – Korsakov và từng tham gia sáng lập Học viện Âm nhạc Odessa. Nhà soạn nhạc thủ cựu và tràn đầy lòng say mê với âm nhạc lãng mạn Nga này đã truyền thụ cho Lutoslawski nghệ thuật biểu diễn piano và sáng tác nhưng lại không thể đưa cậu học trò của mình tới phong cách âm nhạc hiện đại bởi ý niệm âm nhạc của Maliszewski vẫn bám sâu vào hình thức sonata, hình thức âm nhạc đã được nhà soạn nhạc vĩ đại Beethoven hoàn thiện. Tuy nhiên, những kiến thức từ Maliszewski đã truyền cảm hứng về âm nhạc Cổ điển – Lãng mạn và đem lại cơ sở cho Lutoslawski hướng đến thứ ngôn ngữ âm nhạc mới mẻ. Cũng cùng thời gian này, Lutoslawski còn theo học toán tại trường Đại học Tổng hợp Warsaw.

Yếu tố cổ điển đã trở thành một phần trong con người nghệ sỹ Lutoslawski. Bên cạnh hình thái âm nhạc, yếu tố cổ điển đã đem lại cho ông một ý thức thẩm mỹ, sự hài hòa hoàn hảo của thanh âm và đầy xúc cảm sâu lắng. “Không sự kế tiếp nào của âm thanh, Lutoslawski tâm sự, không sự hài hoà nào có thể xây dựng lên mà lại thiếu vắng sự cân nhắc của các yếu tố biểu cảm, màu sắc, đặc điểm riêng biệt. Chỉ có trong âm nhạc mới có khả năng biểu đạt những tình cảm phức tạp, điều mà các ngôn ngữ khác không thể có được”. Phong cách trong sáng tác thời kỳ đầu của Lutoslawski biểu lộ xu hướng đặc trưng của trường phái Tân cổ điển châu Âu, đang thịnh hành vào thời điểm ấy, đặc biệt là trong các biến tấu với hình thức và cấu trúc âm nhạc có cơ sở là di sản của chủ nghĩa Cổ điển. Trong thời kỳ này, nhiều nhà soạn nhạc Ba Lan như Grazyna Bacewicz, Michal Spisak và Stefan Kisielewski, những người cũng quan tâm đến phong cách Tân cổ điển, đã tìm đến Paris để mở rộng thêm hiểu biết qua trường học nổi tiếng của bà Nadia Boulanger, một nhà soạn nhạc, nhạc trưởng và giáo sư âm nhạc. Lutoslawski cũng muốn theo bước đi này của họ. Lẽ ra, sau buổi ra mắt tác phẩm Symphonic Variations vào năm 1939, Lutoslawski sẽ tới Paris nhưng Chiến tranh thế giới thứ 2 đã tước đi của ông cơ hội này.

Có thể nói, tiến trình cuộc đời của ông luôn gắn liền với những tai hoạ của chiến tranh và những âm mưu chính trị. Cha của ông, Jozef Lutoslawski, từng là một thành viên nhiệt thành của phong trào đấu tranh giải phóng Ba Lan và bị giam giữ tại Moscow cùng em trai. Một phần tuổi thơ của Lutoslawski trôi qua ở Moscow và ông chỉ về nước cùng gia đình vào năm 1917, khi nền độc lập trở lại với Ba Lan. Và vào tháng 9-1939, quân Đức xâm lược quê hương, ông đã buộc phải ở lại Warsaw mà không thực hiện được kế hoạch tới Paris của mình. Thậm chí, Lutoslawski còn bị quân Đức bắt tại Krakow nhưng sau đó đã may mắn trốn thoát trên đường tới trại tập trung và cuốc bộ hơn 400km để về Warsaw. Một người anh của ông, cũng là nạn nhân chiến tranh và không may mắn khi bị đưa tới trại tập trung Siberi rồi chết tại đây. Ở Warsaw trong suốt thời gian chiến tranh, Lutoslawski đã kiếm sống bằng cách chơi đàn tại quán cà phê “Sztuka i Moda” và “U Aktorek” cùng với Andrei Panufnik, một nhà soạn nhạc Ba Lan. Ông và bạn mình đã tổ chức nhiều buổi hoà nhạc và recital không chính thức tại các quán cà phê này, như nhiều nghệ sỹ đồng hương vẫn thường làm. Trong thời gian này, ông đã viết tác phẩm nổi tiếng, Variation on a theme of Paganini cho 2 đàn piano (năm 1941), sau đó vào quãng năm 1977-1978, ông đã chuyển soạn lại cho piano và dàn nhạc. Đây cũng là một trong những tác phẩm sáng chói của Lutoslawski và thường xuyên có trong danh mục biểu diễn của các nghệ sỹ nổi tiếng.

Mặc dù đời sống âm nhạc ở Warsaw bị hạn chế dưới sự kiểm soát chặt chẽ của phát xít Đức nhưng điều đó không ngăn cản nổi Lutoslawski tiếp tục nghiền ngẫm về âm nhạc và tìm hướng đi mới cho mình. Vào thời điểm Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, đất nước Ba Lan lại rơi vào một trạng thái hỗn loạn chính trị mới và âm nhạc Ba Lan cũng bị kiểm soát khá chặt chẽ. Trong thời điểm này, với các nghệ sỹ Ba Lan, đặc biệt là Roman Palester và Andrei Panufnik, chỉ có một con đường là xây dựng sự độc lập trong nghệ thuật bằng sự sáng tạo của mình. Và cuối cùng, Lutoslawski đã đi theo con đường này. Đây cũng là lý do thôi thúc ông hoàn thành bản Giao hưởng số 1 vào năm 1947, vốn được bắt đầu vào năm 1941. Bản Giao hưởng số 1 được dựa trên cái nền cơ bản là hình thức và kết cấu canon cổ điển, nhưng lại thuộc trong số các tác phẩm của chủ nghĩa Hình thức. Do bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Hình thức, các tác phẩm âm nhạc của ông rất hiếm khi được trình diễn trước công chúng. Để tránh bị kiểm duyệt, Lutoslawski đã phải sáng tác các tác phẩm âm nhạc dân gian và thiếu nhi, đây cũng là một trong hai hướng chính trong sự nghiệp âm nhạc của ông. Một lần nữa, sự thiếu may mắn trong đời sống chính trị đã trở thành định mệnh của Lutoslawski.

Tuy vậy, ở nhánh kia của sự nghiệp, Lutoslawski vẫn đều đặn sáng tác, như các tác phẩm overture dàn nhạc dây (1949), tổ khúc nhỏ cho dàn nhạc (1050-1951), Silesian Triptych cho soprano và dàn nhạc (1951)… Cùng với những hoạt động mạnh mẽ vào cuối những năm 1950, Lutoslawski bắt đầu được biết đến nhiều hơn ở trên lãnh thổ Ba Lan và nước ngoài. Với phong cách sáng tác dựa trên kỹ thuật 12 âm, ông viết lên tác phẩm “Âm nhạc tang lễ” (năm 1954 – 1958) để tưởng nhớ đến nhà soạn nhạc Hungary Bela Bartok, người đã mất năm 1945 tại New York. Vào thời kỳ sau, rõ ràng ảnh hưởng từ đợt trình diễn bản concerto piano của John Cage năm 1960, với tác phẩm “Jeux Vénitiens” (năm 1961), Lutoslawski đã bước những bước đi đầu tiên vào “một sự giới hạn bấp bênh của âm nhạc” và sau này được phát triển thành phong cách âm nhạc riêng của ông, phong cách Ngẫu nhiên. Kể từ thời kỳ này trở đi, hầu hết các tác phẩm của ông viết cho dàn nhạc hoàn toàn là bán cung, hòa âm theo gợi ý từ bút pháp của Debussy và Ravel. Lutoslawski đã sáng tác gần 20 tác phẩm quan trọng cho dàn nhạc, bao gồm bản Giao hưởng số 3 (1982), tác phẩm đem lại cho ông giải thưởng Grawemeyer Award và tác phẩm cuối cùng,Giao hưởng số 4 (năm 1992). Lutoslawski có nhiều tác phẩm đặc sắc cho các nghệ sỹ solo như Dietrich Fischer – Dieskau (Les espacess du sommeil), Heninz và Ursula Holliger (concerto cho oboe và harp), Anne –Sophie Mutter, Mstislv Rostropovich (cello concerto), Krystian Zimmerman (piano concerto). Ông viết: “Sự mới mẻ  là tiêu chuẩn của các tác phẩm nghệ thuật trong thời đại phát triển quá nhanh này. Sự tìm kiếm của tôi trên cánh đồng của ngôn ngữ âm nhạc không phải là mục đích cho sự cách tân. Tôi tìm kiếm thật nhiều yếu tố kỹ thuật, thứ có thể giúp tôi sáng tác và trong nhiều tác phẩm, tôi mong chờ vào những giá trị cuối cùng, điều mà không phải ngay lập tức ai cũng đón nhận”.

Nhà soạn nhạc Wiltold Lutoslawski trong vườn nhà ông

Trong những lần trả lời phỏng vấn báo chí, Lutoslawski từng nói rằng ông kế tục di sản tinh thần của Debussy, Ravel, Stravinsky và Bartok hoặc các nhà soạn nhạc đề cao yếu tố duy cảm trong âm nhạc. Lutoslawski còn cho rằng ông không bị hấp dẫn bởi quan điểm của trường phái Vienna gồm những nhà soạn nhạc như Schonberg, Berg và Webern. Dẫu vậy ông vẫn thử nghiệm kỹ thuật âm nhạc 12 âm trong cuộc đời sáng tác của mình. Âm nhạc của ông là kiểu mẫu về sự cân bằng giữa hình thức và nội dung, giữa trí tuệ và xúc cảm. Sự hoàn hảo trong âm nhạc của Lutoslawski đã đem lại vị thế vững chắc cho ông giữa các nhà soạn nhạc vĩ đại của thế kỷ 20.

Ngoài sáng tác, Lutoslawski còn tham gia dàn dựng và chỉ huy. Ông bắt đầu quan tâm đến lĩnh vực này kể từ năm 1963, với việc chỉ huy chính tác phẩm của mình, “Ba bài thơ của Henri Michaux” soạn cho hợp xướng và dàn nhạc (viết năm 1961-1963). Ông đã rất thành công với vai trò nhạc trưởng, đi tới các quốc gia Pháp (năm 1964), Czechoslovakia (1965), Hà Lan (1969), Na Uy, Áo (1969), chỉ huy các dàn nhạc giao hưởng lớn như Los Angeles Philhamornic, San Francisco Symphony, BBC Symphony, London Sinfonietta, Archestre de Paris… Kể từ năm 1990, cuộc thi quốc tế mang tên ông, Lutoslawski international competition dành cho các nhà soạn nhạc đã được khởi xướng tại Warsaw. Tháng 4-1993, ông được vinh dự nhận giải “Nobel của âm nhạc”, giải Polar Music Prize tại Stockholm và giải thưởng âm nhạc của Hội Âm nhạc hoàng gia Anh tại London. Năm 1994, ông nhận được giải thưởng cao quý nhất của đất nước Ba Lan, giải thưởng Đại bàng trắng.

Lutoslawski là thành viên danh dự của Hội âm nhạc quốc tế đương đại, Tiến sỹ danh dự của nhiều học viện âm nhạc tại Ba Lan và nhiều nước khác như Krakow, Warsaw, Torun, Chicago, Glasgow, Cambridge, Durham, Cleveland và thỉnh giảng tại các trường âm nhạc Tanglewood, Darlington, Essen, Copenhagen, Stockholm…

Lutoslawski qua đời ngày 7-2-1994 và được chôn cất tại nghĩa trang Powazki và hai tháng sau, người vợ yêu quý của ông vì đột qụy sau cái chết của chồng, cũng từ giã cõi đời vào ngày 23-4.

(Nguồn: nhaccodien.info)



Sưu tầm

Các bài viết khác:
Ban AVT và khúc xuân trào phúng bất hủ: “Tết nhất làm chi, Ai bày Tết nhất làm chi?”
Ban AVT và khúc xuân trào phúng bất hủ: “Tết nhất làm chi, Ai bày Tết nhất làm chi?”
[ad_1] BAN TAM CA TRÀO PHÚNG AVT Thể loại: Trào phùng Thành viên: ca nhạc sĩ Anh Linh (guitar), Vân Sơn (trống) và Tuấn Đăng (contrebasse) Hoạt động: 1958 -...

Nhạc sĩ Mặc Thế Nhân và quan niệm sáng tác không hư cấu
Nhạc sĩ Mặc Thế Nhân và quan niệm sáng tác không hư cấu
[ad_1] HỒ SƠ TIỂU SỬ NHẠC SĨ MẶC THẾ NHÂN Tên nhạc sĩ: Phạm Công Thiệt Nghệ danh: Mặc Thế Nhân, Nhã Uyên, Chí Trung...  Năm sinh: 1939 Quê quán:...

Elvis Phương – nam danh ca điển trai luôn đứng ngoài lề những chuyện tình tay ba, tay tư: “Tôi không có ‘khiếu’ lăng nhăng”
Elvis Phương – nam danh ca điển trai luôn đứng ngoài lề những chuyện tình tay ba, tay tư: “Tôi không có ‘khiếu’ lăng nhăng”
[ad_1] Elvis Phương - ca sĩ điển trai, dành cả cuộc đời cho âm nhạc Elvis Phương (tên thật là Phạm Ngọc Phương, SN 1954) là ca sĩ điển trai,...

Sự thật bất ngờ về chuyện tình buồn trong nhạc phẩm “Đoạn tái bút” của Chế Linh
Sự thật bất ngờ về chuyện tình buồn trong nhạc phẩm “Đoạn tái bút” của Chế Linh
[ad_1] CA KHÚC "ĐOẠN TÁI BÚT" Sáng tác: Tú Nhi, Bằng Giang Thể loại: Nhạc trữ tình Năm ra đời: 1970 Ca sĩ thể hiện tiêu biểu: Chế Linh Ca...

Nhạc sĩ Nhật Ngân: “Thích thì tôi viết, không thích thì tôi thôi”
Nhạc sĩ Nhật Ngân: “Thích thì tôi viết, không thích thì tôi thôi”
[ad_1] HỒ SƠ TIỂU SỬ NHẠC SĨ NHẬT NGÂN Tên thật: Trần Nhật Ngân Nghệ danh: Nhật Ngân, Ngân Khánh, Song An Ngày sinh: 1942 - 2012 Quê quán: Thanh...

Cuộc đời kỳ lạ của ca sĩ Vũ Khanh: Vinh quang và sa ngã!
Cuộc đời kỳ lạ của ca sĩ Vũ Khanh: Vinh quang và sa ngã!
[ad_1] Vinh quang Ca sĩ Vũ Khanh (tên đầy đủ là Vũ Công Khanh) sinh năm 1954 tại Hà Nội trong gia đình Công giáo. Khi còn nhỏ, Vũ Khanh...

NSƯT Thanh Nga: “Nữ hoàng sân khấu” tài sắc vẹn toàn, ra đi tức tưởi khiến ai nấy đều xót xa
NSƯT Thanh Nga: “Nữ hoàng sân khấu” tài sắc vẹn toàn, ra đi tức tưởi khiến ai nấy đều xót xa
[ad_1] HỒ SƠ - TIỂU SỬ NSƯT THANH NGA Tên thật: Juliette Nguyễn Thị Nga Nghệ danh: Thanh Nga. Ngày sinh: 31/07/1942 - Ngày mất: 26/11/1978. Quê quán: Tây Ninh....

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà: Người tiên phong Việt hoá nhạc trẻ Âu – Mỹ và bi kịch cuối cùng của một con người tài hoa
Nhạc sĩ Lê Hựu Hà: Người tiên phong Việt hoá nhạc trẻ Âu – Mỹ và bi kịch cuối cùng của một con người tài hoa
[ad_1] HỒ SƠ TIỂU SỬ NHẠC SĨ LÊ HỰU HÀ Tên thật: Lê Hựu Hà Ngày sinh - ngày mất: 1946 - 2003 Quê quán: Đồng Nai Gia đình: Nhạc...

Hoàn cảnh ra đời ca khúc “Hướng về Hà Nội”: Da diết nỗi nhớ thủ đô và mối tình dang dở
Hoàn cảnh ra đời ca khúc “Hướng về Hà Nội”: Da diết nỗi nhớ thủ đô và mối tình dang dở
[ad_1]   Hoàn cảnh sáng tác ca khúc Hướng về Hà Nội   Ca khúc Hướng về Hà Nội có hoàn cảnh sáng tác khá đặc biệt. Trong một lần trả...

Top 3 ca khúc hay nhất của nhạc sĩ Hoàng Lang
Top 3 ca khúc hay nhất của nhạc sĩ Hoàng Lang
[ad_1] Hoàng Lang là một trong những tên tuổi nổi bật của làng tân nhạc miền Nam cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970. Amnhac.net Nhạc sĩ Hoàng...

Nhạc phẩm “Tình ca” và ước mơ gắn kết tình cảm con dân nước Việt về một mối của cố nhạc sĩ Phạm Duy
Nhạc phẩm “Tình ca” và ước mơ gắn kết tình cảm con dân nước Việt về một mối của cố nhạc sĩ Phạm Duy
[ad_1] VỀ CA KHÚC "TÌNH CA" Tên ca khúc: Tình ca Nhạc sĩ sáng tác: Phạm Duy Thể loại: Nhạc tiền chiến Năm ra đời: 1952 Ca sĩ thể hiện...

Top 3 ca khúc hay nhất của nhạc sĩ Đan Trường
Top 3 ca khúc hay nhất của nhạc sĩ Đan Trường
[ad_1] Nhạc sĩ Đan Trường sáng tác không nhiều, nhưng mỗi bài ông viết ra đều là tiếng lòng chắt chiu, khiến người nghe không khỏi bồi hồi, rung động....

“Tuổi ngọc” của nhạc sĩ Phạm Duy – bản Nữ ca dành tặng người cô con gái Thái Hiền
“Tuổi ngọc” của nhạc sĩ Phạm Duy – bản Nữ ca dành tặng người cô con gái Thái Hiền
[ad_1] CA KHÚC TUỔI NGỌC Tên ca khúc: Tuổi ngọc Nhạc sĩ sáng tác: Phạm Duy Thể loại: Trữ tình Chủ đề: Nữ ca Năm ra đời: 1973 Ca sĩ...

Văn Cao và Phạm Duy: Tình bạn hiếm có khó tìm qua lời kể của họa sĩ Văn Thao
Văn Cao và Phạm Duy: Tình bạn hiếm có khó tìm qua lời kể của họa sĩ Văn Thao
[ad_1] Họa sĩ Văn Thao - con trai trưởng của nhạc sĩ Văn Cao là người nắm giữ nhiều câu chuyện, kỷ niệm về tình bạn đẹp trong cả âm...

Nhạc sĩ Cung Tiến: Từ cậu bé “thần đồng âm nhạc” đến “cha đẻ” của những tình khúc bất hủ
Nhạc sĩ Cung Tiến: Từ cậu bé “thần đồng âm nhạc” đến “cha đẻ” của những tình khúc bất hủ
[ad_1] Tên thật: Cung Thúc Tiến Nghệ danh: Cung Tiến Ngày sinh – ngày mất: 27/11/1938 – 10/5/2022 Quê quán: Hà Nội Gia đình: Vợ là bà Nguyễn Thụy Hữu...