CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA FRANZ LISZT (1811-1886)


Franz Liszt, một bậc thầy trình diễn piano vĩ đại, nhạc trưởng và nhà soạn nhạc, người đã làm cuộc cách mạng trong kỹ thuật biểu diễn piano, tiền bối của Wagner trong các tác phẩm sáng tác cho dàn nhạc của ông, sinh ra ở Raiding năm 1811. Ông được nhận những bài học nhạc đầu tiên từ cha mình, Adam Liszt, một nhân viên kế toán làm việc dưới sự bảo trợ của Hoàng thân Esterbéz tại Eisenstadt khi mà Haydn còn làm nhạc trưởng của dàn nhạc cung đình. Adam nhanh chóng nhận ra rằng con trai ông có những tố chất phi thường về âm nhạc.

Franz Liszt (1811-1886)

Cuộc đời Franz Liszt

Franz có những buổi biểu diễn đầu tiên của mình ở Oedenburg năm 1820 khi ông mới 9 tuổi và đã gây ấn tượng mạnh với một nhóm những nhà tư bản và quý tộc người Hungary, đến nỗi họ đồng ý tài trợ học phí cho ông ở Vienna. Ông học tập ở đây với Czerny và Salieri, và trong buổi biểu diễn đầu tiên trong năm 1821, thính giả Vienna đã thực sự choáng váng trước trình độ điêu luyện của ông. Gia đình Liszt rời Vienna trong khoảng cuối năm đó đến định cư tại Paris, nơi mà ông giành được sự kính trọng như đối với một nghệ sĩ piano phi thường. Sự ngạo nghễ chói lọi trong nghệ thuật điều khiển nhạc cụ điêu luyện, như làm xiếc của Liszt vượt trội so với một loạt các nghệ sĩ biểu diễn khác. Lối trình diễn “performing-dog tricks”, như bản thân ông gọi nó, đã gây kinh ngạc các thính giả thuộc giới quý tộc tại các phòng khách ông đã biểu diễn. Và rất nhanh chóng, ông trở thành một thần tượng ở Paris, mặc dù ông cũng có các buổi biểu diễn ở Pháp, Vương quốc Anh, Thụy Sĩ.

Bắt đầu sự nghiệp sáng tác

Tuy nhiên, Liszt không bao giờ để cho công việc biểu diễn làm ảnh hưởng đến nỗ lực rèn luyện để trở thành một nhà soạn nhạc. Ông tiếp tục học tại Paris dưới sự hướng dẫn của Paer và Reicha. Vào năm 1824, Paer đã thuyết phục nhà hát Opera Paris diễn một đoạn nhạc kịch ngắn của nhà soạn nhạc trẻ này. Kết quả, vở Don Sancio or The castle of love (Don Sancio hay lâu đài tình yêu) được diễn buổi đầu tiên vào năm 1825. Nó bị lãng quên rất nhanh, nhưng Liszt không hề nản lòng. Trong khi chờ đợi, ông vẫn tiếp tục sự nghiệp của một nhạc công bậc thầy. Không phải tình cờ khi các sáng tác quan trọng duy nhất của giai đoạn này, các Studies, là các sáng tác đặc biệt để phát triển các kỹ thuật đầy tiềm năng còn chưa được khám phá của cây đàn piano mà kỹ thuật “performing-doc tricks” của ông đã làm ông được biết đến, mặc dù kỹ thuật làm chủ cây piano bậc thầy của ông đã hoàn toàn được công nhận bởi những chuẩn mực ngày ấy.

Được xuất bản tại Paris vào năm 1826, 12 Studies (dự định mở đầu để phát triển thành 24 bản) được dự kiến trước hết cho chính bản thân ông dùng. Các vấn đề xung quanh kỹ thuật của chiếc piano thực sự đã lôi cuốn sức tưởng tượng của ông nhiều hơn những lời ca ngốc nghếch của Don Sancio. Đó chính là tiếng nói mang đậm dấu ấn sáng tạo cá nhân của một đẳng cấp hoàn toàn khác. Không một pianist nào khác từng viết được những bản nhạc tương tự dành cho piano. Óc sáng tạo và sức tưởng tượng ấy đã từng có lúc vươn đến tầm cao bằng chất chất thơ. Ý nghĩa quan trọng phi thường của những bản Studies này còn bởi sự thật là chúng đã được tái bản sau này với chỉ những sửa chữa nhỏ, như các tác bài tập Transcendental Studies, một trong số những kiệt tác vĩ đại nhất trong của di sản dành cho piano.

Sự nghiệp nghệ sĩ biểu diễn

Trong khoảng thời gian bố ông qua đời trong năm 1827, Liszt quyết định bắt đầu dạy học. Đó như một cách để ông sắp xếp lại cuộc sống hỗn độn và bận rộn của mình. Ông cũng bắt đầu nghiên cứu triết học và các tác phẩm kinh điển một cách nhiệt thành, hứng khởi. Năm 1834, ông bắt đầu một tình yêu lâu dài với nữ bá tước Marie de Flavigny, vợ của bá tước D’Agoult, và cùng bà đi nhiều nơi, đầu tiên là tới Thuỵ Sĩ, sau đó là Italy. Trong hành trình của mình, ông sáng tác một bộ tiểu phẩm ngắn cho piano, sau đó được chỉnh sửa lại để trở thành Anneés de pèdlerinage (Những tháng năm hành hương).

Sự nghiệp biểu diễn của ông đạt đến đỉnh cao của nó vào những năm từ 1839 đến 1847: những thành công vang dội từ Vienna, trở về với Hungary đến Prague, Đức, và sau đó lại là Paris. Ông dứt khoát chia tay với Marie de Flavigny năm 1844 và bắt đầu mối quan hệ mới với nữ diễn viên Charlotte de Hagn và vũ công Lola Montès. Năm 1847 ông bắt đầu một tình bạn lâu dài với quận chúa Carolyne von Sayn-Wittgenstein.

Sau những năm tháng tiếp tục biểu diễn với trình độ bậc thầy, Liszt đến định cư ở Weimar năm 1848, nơi mà ông đã làm nhạc trưởng từ năm 1842, một nhiệm vụ đã cuốn hút ông vào việc dàn dựng và tổ chức các mùa hòa nhạc và opera của triều đình. Dưới chiếc đũa điều khiển của ông, dàn nhạc đã trở thành một trong những dàn nhạc xuất sắc nhất châu Âu. Các sáng tác của ông cũng có thuận lợi lớn, kết quả là các sáng tác cho dàn nhạc đã trở thành trung tâm cho các sáng tác của ông thời kỳ này. Thực tế là các thơ giao hưởng của ông được viết trong khoảng thời gian đó.

Tranh chân dung nhà soạn nhạc Liszt

Trong lúc đó, sau khi nghe Rienzi lần đầu tiên vào năm 1844, ông đã quyết định giành tất cả thể xác và tâm hồn để đưa nhạc của Wagner đến được với công chúng. Liszt xem Wagner như một vị chúa của âm nhạc, và tình bạn gắn bó suốt đời của họ lại càng mạnh mẽ hơn nữa khi Wagner kết hôn với con gái của Liszt, Cosima. Suốt thời gian sáng tạo mãnh liệt của ông tại Weimar, Liszt chú tâm vào chỉ huy, dàn dựng các buổi biểu diễn của tất cả các vở opera gây tranh cãi nhất thời kỳ đó. Bao gồm các vở Benvenuto Cellini và Lelio của Berlioz, Genoveva của Schumann. Nhưng, một buổi trình diễn thất bại thê thảm của vở The Barber của Bagdad cộng với sự thù địch của những kẻ bảo thủ trong thành phố đã kết thúc thời gian hạnh phúc của ông ở đây. Ông dời đến Rome năm 1865, nơi mà ông được nhận phẩm cấp Minor Order từ giáo hoàng Pius IX năm 1868 và từ đấy về sau khoác tấm áo choàng của cha trưởng tu viện. Từ đó, Liszt phải phân chia thời gian của mình giữa Budapest, Weimar và Rome. Ông đã được phong là Hiệu trưởng của Viện hàn lâm âm nhạc quốc gia ở Budapest, và oratorio Chirstus của ông được đón nhận nhiệt thành tại Weimar.

Năm cuối đời của Liszt được dành cho các chuyến đi, công việc khắp Hungary, Pháp, Italy, Luxembourg, Vương quốc Anh và Đức. Ông tiếp tục sáng tác và được có mặt trong buổi biểu diễn thành công các vở opera của Wagner tại Bayreuth. Ông qua đời chỉ vài ngày sau một buổi diễn của vở Tristan und Isolde vào ngày 31 tháng 7 năm 1886, 3 năm sau khi Wagner qua đời (1883).

Các tác phẩm kinh điển

Đóng góp vĩ đại nhất trong các trước tác cho piano của Liszt hiển nhiên là 24 Studies (1838), 12 Transcendental Studies (1838) và 3 bộ Anneés de pèleriage (1836–77). Trong các sáng tác cho piano của ông, tác phẩm trứ danh nhất là Sonata giọng Si thứ (1852–53), Mephisto Waltz cùng các sáng tác cho piano phổ biến sau này của ông. Tác phẩm vĩ đại nhất cho piano và dàn nhạc của ông là hai bản Concerto giọng Mi giáng trưởng, Concerto giọng La trowngr, và bản Totentanz (Điệu nhảy của thần chết), một sự tưởng tượng rùng rợn trên chủ đề Dies Irae.

Không thể chối bỏ rằng âm nhạc của Liszt khá thất thường và đôi khi có những thiếu sót nghiêm trọng. Cái mà đã đưa Liszt thành vĩ đại chính là khả năng của ông có thể đón nhận và theo đó, tiếp thu trọn vẹn các ý niệm và xu hướng âm nhạc trong thời kỳ của ông. Chắc chắn ông sẽ phải chịu ơn nhiều các nền văn hoá ông đã đến, đã sống, đã trải nghiệm cho khả năng đặc biệt của mình. Sinh ra trong một khu vực nơi mà trường phái cổ điển Vienna đã vươn tới độ thành thục trọn vẹn của nó và được học tập trong những năm trưởng thành cũng tại chính Vienna, chàng trai trẻ Liszt dời đến Paris khi “Kinh đô ánh sáng” thực sự là trung tâm tập hợp các tinh hoa văn hoá của cả châu Âu. Anh đã dành thời gian thảnh thơi của mình để tiếp cận với kịch melo của Ý, truyền thống âm nhạc vĩ đại của Đức. Có thể không nhạc sĩ nào – trong thời đại của ông hay cả thời đại khác – có thể tích luỹ được vốn kinh nghiệm dồi dào như thế, hay có rất nhiều cơ hội để sử dụng tốt chúng.

(Nguồn: nhaccodien.info)

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào thì đừng ngần ngại, hãy liên hệ với mình:
Facebook
Youtube
Tiktok
Instagram





Sưu tầm

Các bài viết khác:
Hoàn cảnh ra đời ca khúc Hai vì sao lạc: Hóa ra không phải kể về một câu chuyện tình yêu
Hoàn cảnh ra đời ca khúc Hai vì sao lạc: Hóa ra không phải kể về một câu chuyện tình yêu
[ad_1] VỀ CA KHÚC HAI VÌ SAO LẠC Tên ca khúc: Hai vì sao lạc Nhạc sĩ sáng tác: Anh Việt Thu Thể loại: Nhạc vàng Năm ra đời: Trước...

Nhạc sĩ Lê Dinh kể chuyện nhạc sĩ Anh Bằng: Tình bạn tri âm tri kỷ kéo dài nửa thập kỷ
Nhạc sĩ Lê Dinh kể chuyện nhạc sĩ Anh Bằng: Tình bạn tri âm tri kỷ kéo dài nửa thập kỷ
[ad_1] Bài viết được đăng vào tháng 4 năm 2008. Dưới đây là phần 2, viết về những kỷ niệm giữa nhạc sĩ Lê Dinh và nhạc sĩ Anh Bằng...

Ca khúc “Xóm đêm” của Phạm Đình Chương: Bức tranh tả thực đời sống nghèo khó bên cạnh phồn hoa đô thị
Ca khúc “Xóm đêm” của Phạm Đình Chương: Bức tranh tả thực đời sống nghèo khó bên cạnh phồn hoa đô thị
[ad_1] CA KHÚC "XÓM ĐÊM" Sáng tác: Phạm Đình Chương Thể loại: Nhạc quê hương Năm ra đời: 1955 Ca sĩ thể hiện tiêu biểu: Thái Thanh và Ban hợp...

Top 10 câu nói hay nhất về sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy
Top 10 câu nói hay nhất về sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy
[ad_1] "Người nhạc sĩ vĩ đại nhất của Việt Nam" - đây là lời nhận xét của Tuấn Ngọc về sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy.  Nguồn:...

Tuấn Vũ – Giao Linh: Cặp song ca huyền thoại sau 1975
Tuấn Vũ – Giao Linh: Cặp song ca huyền thoại sau 1975
[ad_1] Đặc trưng của dòng nhạc vàng là mang tính kể chuyện, tâm sự với nhau, vì thế mà nó phù hợp để hát song ca. Cũng nhờ có đặc...

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA FRANCISCO TARREGA (1852-1909)
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA FRANCISCO TARREGA (1852-1909)
[ad_1] Francisco de Asís Tárrega Eixea sinh ngày 21 tháng 11 năm 1852. Cha cậu, Francisco Tárrega Tirado, là một nhân viên soát vé, và mẹ cậu, Antonia Eixea, là...

Bài viết của nhạc sĩ Thẩm Oánh: Lược sử hình thành và phát triển tân nhạc Việt Nam
Bài viết của nhạc sĩ Thẩm Oánh: Lược sử hình thành và phát triển tân nhạc Việt Nam
[ad_1] Dưới đây là một trích đoạn trong bài viết được nhạc sĩ Thẩm Oánh đăng trên Tạp chí Bách Khoa, Sài Gòn năm 1963.  Đây chỉ là bản lược...

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên gửi nỗi nhớ Sài Gòn da diết vào nhạc phẩm “Biết bao giờ trở lại”
Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên gửi nỗi nhớ Sài Gòn da diết vào nhạc phẩm “Biết bao giờ trở lại”
[ad_1] CA KHÚC "BIẾT BAO GIỜ TRỞ LẠI" Tên ca khúc: Biết bao giờ trở lại Nhạc sĩ sáng tác: Ngô Thụy Miên Thể loại: Tình ca Năm ra đời:...

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên: Người “đội vương miện” cho nhan sắc Đà Lạt
Nhạc sĩ Hoàng Nguyên: Người “đội vương miện” cho nhan sắc Đà Lạt
[ad_1] HỒ SƠ TIỂU SỬ NHẠC SĨ HOÀNG NGUYÊN Tên thật: Cao Cự Phúc Nghệ danh: Hoàng Nguyên Ngày sinh: 1930 - 1973 Quê quán: xã Diễn Bình, huyện Diễn...

Vài thông tin hay về “Người tình mùa đông” – nhạc phẩm làm nên tên tuổi ca sĩ Như Quỳnh
Vài thông tin hay về “Người tình mùa đông” – nhạc phẩm làm nên tên tuổi ca sĩ Như Quỳnh
[ad_1] CA KHÚC "NGƯỜI TÌNH MÙA ĐÔNG" Nguyên tác: Miyuki Nakajima Lời Việt "Người tình mùa đông": Anh Bằng Lời Việt "Thuyền tình trên sông": Khúc Lan Lời Việt "Còn...

Top 5 ca khúc hay nhất của nhạc sĩ Huỳnh Anh
Top 5 ca khúc hay nhất của nhạc sĩ Huỳnh Anh
[ad_1] Nhạc sĩ Huỳnh Anh là tác giả của nhiều bản nhạc tình nổi tiếng. Gia tài âm nhạc tuy không đồ sộ nhưng những ca khúc của ông có...

Hoàn cảnh ra đời ca khúc “Tôi muốn”: Khát khao đầy nhân văn của Lê Hựu Hà giữa thời tao loạn
Hoàn cảnh ra đời ca khúc “Tôi muốn”: Khát khao đầy nhân văn của Lê Hựu Hà giữa thời tao loạn
[ad_1] VỀ CA KHÚC "TÔI MUỐN" Tên ca khúc: Tôi muốn Nhạc sĩ sáng tác: Lê Hựu Hà Năm ra đời: 1970 Thể loại: Nhạc trẻ Ca sĩ thể hiện...

Nhạc sĩ Thẩm Oánh: Suốt đời phụng sự cho nghệ thuật
Nhạc sĩ Thẩm Oánh: Suốt đời phụng sự cho nghệ thuật
[ad_1] HỒ SƠ TIỂU SỬ NHẠC SĨ THẨM OÁNH Tên thật: Thẩm Ngọc Oánh Nghệ danh: Thẩm Oánh Ngày sinh: 1916 - 1996 Quê quán: Hà Nội Nghề nghiệp: Nhạc...

Những ngày cuối đời quạnh quẽ của nhạc sĩ Trúc Phương
Những ngày cuối đời quạnh quẽ của nhạc sĩ Trúc Phương
[ad_1] Năm 2015, để tưởng niệm 20 năm ngày mất của “ông hoàng bolero” – Trúc Phương, nhà báo Trần Quốc Bảo đã viết về những kỷ niệm khó quên...

Duyên tình thơ nhạc giữa nhạc sĩ Anh Bằng và thi sĩ Phạm Thành Tài
Duyên tình thơ nhạc giữa nhạc sĩ Anh Bằng và thi sĩ Phạm Thành Tài
[ad_1] Nhắc đến 3 ca khúc “Anh còn nợ em”, “Anh còn yêu em”, “Từ thuở yêu em” của nhạc sĩ Anh Bằng thì ai cũng biết, nhưng không phải...