CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA GYORGY LIGETI (1923-2006)


György Sándor Ligeti sinh ngày 28 tháng 5 năm 1923 tại Dicsőszentmárton, Transylvania, Rumani trong một gia đình Do Thái. Gia đình Ligeti không có ai chơi nhạc thậm chí chẳng có một nhạc cụ nào ngoài chiếc radio cũ kỹ. Khi còn bé cha mẹ ông đều nghĩ sau này Ligeti sẽ trở thành nhà khoa học bởi ông đặc biệt yêu thích các môn khoa học tự nhiên là vật lý và toán học. “Tôi được bố cho học piano khi đã khá lớn tuổi, chính xác là 14 tuổi do vậy kỹ thuật piano của tôi rất yếu và cũng muộn để trở thành một pianist… Tôi ra cửa hàng mua bút chì, giấy, một cục tẩy và bắt đầu sáng tác dựa theo những bản nhạc của Grieg mà tôi đang tập”.

György Sándor Ligeti (1923-2006)
 

Năm 1943 khi mới 20 tuổi ông buộc phải dừng việc học do chiến tranh, cả gia đình ông bị bắt vào làm việc trong các trại tập trung của bọn Phát xít và chỉ có Ligeti và mẹ ông là may mắn sống sót sau cuộc chiến.

Sau chiến tranh ông lại theo học tại thủ đô Budapest dưới sự hướng dẫn của nhiều nhạc sĩ tên tuổi của Rumani như Pál Kadosa, Ferenc Farkas, Zoltán Kodály, Sándor Veress và đến năm 1949 thì tốt nghiệp. Sau khi tốt nghiệp ông dành một năm để nghiên cứu về âm nhạc dân tộc rồi sau đó lại quay lại nhạc viện dạy hòa âm, đối vị và phân tích tác phẩm. Lúc này Rumani theo chế độ Xã hội chủ nghĩa dưới sự bảo trợ của Xô viết nên Ligeti cũng như giới nghệ sĩ ở Rumani bị hạn chế tiếp xúc với phương Tây. Năm 1956 cuộc cách mạng đẫm  máu nổ ra nhưng thất bại, Ligeti đã sang Vienna và trở thành công dân Áo.

Sau khi đến Áo một thời gian ông chuyển đến làm việc tại một studio ở Cologne nơi ông được tiếp xúc và tìm hiểu âm nhạc của Boulez và Stockhausen. Tại đây Ligeti làm quen vời âm nhạc điện tử cũng như những trào lưu mới nhất và ông cũng bắt đầu có những sáng tác đánh dấu sự xuất hiện của mình bên ngoài biên giới Rumani (tác phầm viết cho dàn nhạc Apparitions(1958-59) được biểu diễn lần đầu tại liên hoan âm nhạc ISCM Festival đã thành công rực rỡ). Tại studio ông thường xuyên gặp gỡ và kết bạn với những nghệ sĩ tiên phong tại châu Âu  lúc bấy giờ như  Karlheinz Stockhausen, Gottfried Michael Koenig, Herbert Eimert và Pierre Boulez. Tình bạn của ông và nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng người Pháp Boulez có nhiều lúc căng thẳng khi Ligeti chỉ trích nhiều sáng tác của Boulez, nhưng sau này Ligeti tự nhận lỗi và rất biết ơn Boulez đã giúp rất nhiều sáng tác của ông đến với khán giả.

Ligeti không muốn chạy theo số đông hay núp bóng dưới một trường phái nào cả ông muốn sáng tác theo bản năng thiên phú của mình: “Tôi sáng tác một cách hết sức bản năng là ghi lại những âm thanh trong trí tưởng tượng. Tất nhiên tôi có sử dụng kỹ thuật nhưng chúng dường như không tồn tại khi tôi sáng tác, mọi người ngày nay tin rằng có thể phân tích hay mô tả bằng các sơ đồ toán học nhưng tôi thì không”. Không như nhiều nhạc sĩ cùng thời chạy theo các hình thức, âm nhạc của Ligeti cách tân nhưng vẫn đầy chất nhân văn, nó chứa đựng một thế giới nội tâm mãnh liệt của một người đàn ông trải qua bao thăng trầm của cuộc đời .

Piano là nhạc cụ mà ông sáng tác khá nhiều và chúng đều là những tác phẩm tiêu biểu của ông. Các sáng tác cho piano của ông trải dài trên suốt chặng đường sáng tác của ông từ khi còn là sinh viên trường nhạc tại Hungary cho đến Ligeti trưởng thành của thập niên 70. Nổi bật nhất trong số này có lẽ là bộ Etude và một concerto cho piano được nhạc sĩ kiêm nhạc trưởng Boulez coi là những tác phẩm nổi bật cuối thế kỷ 20 và được rất nhiều pianist nổi tiếng cũng như sinh viên trường nhạc luyện tập và biểu diễn. Các tác phẩm cho piano phản ánh khá rõ nét sự phát triển trong ngôn ngữ âm nhạc của Ligeti: Khi còn là sinh viên trường nhạc tại Hungary ông bị cuốn hút bởi âm nhạc dân gian và nhất là âm nhạc mới đầy cá tính của nhạc sĩ đàn anh Béla Bartók. Các sáng tác trong giai đoạn này có thể kể đến Capriccio 1 & 2 và các bài tập sáng tác dựa theo các sáng tác của Mozart, Schumann, Bach, Frescobandi … cho thấy một Ligeti trên con đuờng tìm tòi và ghi đậm dấu ấn của Bartók cũng như Stravinsky. Các etude, có lẽ là các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và ngày càng được nhiều pianist biểu diễn, chia làm 3 tập: “Book I” hoàn thành năm 1985, “Book II” hoàn thành năm 1994 và “Book III” hoàn thành năm 1995.

Âm sắc bị chìm trong kết cấu tổng thể

Ngoài ra ông cũng sáng tác cho piano bốn tay, song tấu piano, harpsichord và cho organ (Khi ở Kolozsvar, Ligeti có học chơi organ trong 3 năm từ 1941 đến 1943).

Le Grand Macabre là vở opera duy nhất của ông với phần libretto gốc bằng tiếng Đức do ông cùng Michael Meschke viết dựa trên vở kịch La Balade du Grand Macabre của nhà văn Bỉ Michel De Ghelderode. Tác phẩm được biểu diễn lần đầu vào ngày 12 tháng 4 năm 1978. Vở opera tạo nên một không gian ma quái thể hiện những ảo ảnh về thế giới hiện đại. Vở opera này có điều đặc biệt là có thể biểu diễn bằng rất niều ngôn ngữ khác nhau như Anh, Thụy Điển, Pháp và Italia và nó là một trong những vở opera hiện đại đựoc biểu diễn nhiều nhất.

Ngoài ra Ligeti sáng tác khá nhiều concerto cho các nhạc cụ khác nhau: “Hamburg concerto for horn and orchestre” viết trong giai đoạn 1998 đến 2002 cho horn solo và dàn nhạc nhỏ, “Double concerto for flute oboe for orchestre” viết năm 1972, các concerto cho cello (1966), Concerto cho flute và oboe (1972), Concerto cho violin (1992), Hamburg Concerto cho horn (1999).

Như nhiều nhạc sĩ lớn khác ông cũng viết một bản “Requiem” gồm 4 phần với thời lượng khoảng 30 phút. Tác phẩm viết cho dàn nhạc cỡ trung, 2 giọng nữ solo (soprano và mezzo soprano) và được phụ họa bởi dàn hợp xướng 100 ca sĩ: Trong khi phần đầu Introit viết duới hình thức khá đơn giản thì phần Kyrie viết dưới hình thức fugue 5 bè (S,M,A,T,B), mỗi bè lại được viết theo hình thức canon 4 bè tổng cộng tạo thành 20 bè đan xen nhau. Phần Dies Irae là trung tâm của tác phẩm với tính chất kịch tính và bùng nổ miêu tả ngày tận thế (Last Judgement). Bản “Requiem” có buổi biểu diễn đầu tiên thành công rực rỡ tại Stockholm vào năm 1965 và nhận được giải thưởng danh giá Bonn Beethoven Prize vào năm 1967. Ngoài bản “Requiem” nổi tiếng này ông còn sáng tác khá nhiều tác phẩm cho hợp xướng theo phong cách a capella cũng như các tác phẩm thanh nhạc, nổi bật trong số đó có thể kể đến Aventures (1962), Nouvelles Aventures (1962-65), Lux Aeterna (1966) và Síppal, dobbal,nádihegedüvel (2000).

Năm 1953 khi nhóm ngũ tấu nổi tiếng của Rumani lúc bấy giờ là Jeney Quintet đề nghị ông sáng tác cho họ, Ligeti đã chuyển soạn một phần “musica ricercata” cho flute, oboe, horn, clarinet, bassoon lấy tên là “Five bagatelles”…  Và  khi học viện Franz Listz tổ chức liên hoan âm nhạc đương đại làn thứ nhất vào tháng 9 năm 1956, bản ngũ  tấu này đã được nhóm Jeney Quintet biểu diển rất thành  công. Thực ra tác phẩm này gồm sáu phần nhưng do một phần có nhiều quãng nghịch nên đã bị chính quyền cắt bỏ. (Sau này khi Ligeti rời Rumani, bản ngũ tấu này mới được biểu biễn đầy đủ gồm 6 phần và có tên là “Six bagatelles for wind quintet”. 12 năm sau Ligeti sáng tác một bản ngũ tấu khác là “Ten pieces for wind quintet”. Tác phầm gồm 10 phần với 5 phần phối khí khá cân bằng trong khi 5 phần còn lại lại làm nổi bật các nhạc cụ khác nhau : số 2 là clarinet, số 4 là flute, số 6 là oboe, số 8 là horn và số 10 là basoon. Trong số các tác phẩm thính phòng, ngoài hai sáng tác cho ngũ tấu nói trên phải kể đến tam tấu cho piano, horn, violin và hai tứ tấu đàn dây và sonata cho viola solo. Các tác phẩm cho thấy một Ligeti đầy cách tân sáng tạo nhưng vẫn mang tính kế thừa các di sản truyền thống : âm nhạc của ông đầy cách tân trong việc sử hệ thống microtone đan xen với các thủ pháp tiến hành bè độc đáo (dynamic polyphony) nhưng vẫn kế thừa âm nhạc của các nhà soạn nhạc lỗi lạc trước đó.

Trong suốt sự nghiệp của mình Ligeti nhận được nhiều giải thưởng danh giá: Bach Prize (năm 1975), Grawemeyer Prize (năm 1986) , Music Prize của hội đồng âm nhạc quốc tế, Kyoto Award (2001), Kossuth Price, Hungary (2003) Polar Music Prize (2004) và ông cũng tham gia giảng dạy tại nhiều nhạc viện danh tiếng như Stockholm Academy of Music, Hamburg Music Academy, Stanford University…

Ligeti mất ngày 12 tháng 6 năm 2006, ông mãi được nhớ đến như là nhạc sĩ vĩ đại của thế kỷ 20. Những cách tân trong ngôn ngữ âm nhạc cũng như tư tưởng âm nhạc mang tính thời đại sẽ là tấm gương cho các nhạc sĩ tương lai học tập.

(Nguồn: nhaccodien.info)

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào thì đừng ngần ngại, hãy liên hệ với mình:
Facebook
Youtube
Tiktok
Instagram





Sưu tầm

Các bài viết khác:
NGHỆ SĨ GUITAR ĐIỆN CÓ ẢNH HƯỞNG NHẤT ĐẾN LỊCH SỬ ÂM NHẠC ĐẠI CHÚNG – JIMI HENDRIX (1942 – 1970)
NGHỆ SĨ GUITAR ĐIỆN CÓ ẢNH HƯỞNG NHẤT ĐẾN LỊCH SỬ ÂM NHẠC ĐẠI CHÚNG – JIMI HENDRIX (1942 – 1970)
[ad_1] James Marshall “Jimi” Hendrix (tên khai sinh Johnny Allen Hendrix; 27 tháng 11 năm 1942 – 18 tháng 9 năm 1970) là một nhạc công, ca sĩ và nhạc...

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA ALEXANDER BORODIN (1833 – 1887)
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA ALEXANDER BORODIN (1833 – 1887)
[ad_1] Alexander Borodin bộc lộ thiên hướng âm nhạc từ nhỏ tuy nhiên khi lớn lên, ông lại trở thành tiến sĩ hoá học. Theo đuổi cả hai niềm đam...

Giải mã lý do Thái Thanh được xưng tụng là “đệ nhất danh ca”
Giải mã lý do Thái Thanh được xưng tụng là “đệ nhất danh ca”
[ad_1] Thái Thanh (tên thật là Phạm Thị Băng Thanh) sinh năm 1934 tại Hà Nội, trong gia đình nghệ thuật (chị gái là danh ca Thái Hằng, anh rể...

Ca sĩ Khánh Hà: Giọng ca nội lực của làng nhạc nhẹ đầy nữ tính và quyến rũ, hát 20 bài không phải lấy hơi
Ca sĩ Khánh Hà: Giọng ca nội lực của làng nhạc nhẹ đầy nữ tính và quyến rũ, hát 20 bài không phải lấy hơi
[ad_1] HỒ SƠ - TIỂU SỬ CA SĨ KHÁNH HÀ Tên thật: Lữ Thị Khánh Hà. Nghệ danh: Khánh Hà. Ngày sinh: 28/02/1952. Quê quán: Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Ca...

CÁCH KẾT HỢP CÁC ĐOẠN RIFF GUITAR ĐỂ ĐỘC TẤU
CÁCH KẾT HỢP CÁC ĐOẠN RIFF GUITAR ĐỂ ĐỘC TẤU
[ad_1] Cách tạo đoạn riff của riêng bạn Bước đầu tiên trong việc học cách viết một bản độc tấu tuyệt vời là đảo ngược các bài hát bạn thích...

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA ANTON BRUCKNER (1824-1896)
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA ANTON BRUCKNER (1824-1896)
[ad_1] Anton Bruckner là một trường hợp đặc biệt của lịch sử âm nhạc, một nạn nhân vô tội trong “chiến tranh Brahms-Wagner”. Xuất thân là một thày giáo nghèo ở...

Hoàn cảnh ra đời “Thành phố sương mù” – ca khúc được viết riêng cho giọng ca Như Quỳnh
Hoàn cảnh ra đời “Thành phố sương mù” – ca khúc được viết riêng cho giọng ca Như Quỳnh
[ad_1] CA KHÚC "THÀNH PHỐ SƯƠNG MÙ" Tác giả: Nhạc sĩ Hoàng Anh Thể loại: Nhạc trữ tình Năm ra đời: Đầu thập niên 2000 Ca sĩ thể hiện tiêu...

Anh Việt Thu trong mắt Du Tử Lê: Một người viết nhạc tài hoa, một nhân cách đáng quý trọng giữa đời thường
Anh Việt Thu trong mắt Du Tử Lê: Một người viết nhạc tài hoa, một nhân cách đáng quý trọng giữa đời thường
[ad_1] Xin phép được trích dẫn lại bài viết của thi sĩ Du Tử Lê về nhạc sĩ Anh Việt Thu - một người viết nhạc tài hoa, một nhân...

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA FRANCISCO TARREGA (1852-1909)
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA FRANCISCO TARREGA (1852-1909)
[ad_1] Francisco de Asís Tárrega Eixea sinh ngày 21 tháng 11 năm 1852. Cha cậu, Francisco Tárrega Tirado, là một nhân viên soát vé, và mẹ cậu, Antonia Eixea, là...

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà: Người tiên phong Việt hoá nhạc trẻ Âu – Mỹ và bi kịch cuối cùng của một con người tài hoa
Nhạc sĩ Lê Hựu Hà: Người tiên phong Việt hoá nhạc trẻ Âu – Mỹ và bi kịch cuối cùng của một con người tài hoa
[ad_1] HỒ SƠ TIỂU SỬ NHẠC SĨ LÊ HỰU HÀ Tên thật: Lê Hựu Hà Ngày sinh - ngày mất: 1946 - 2003 Quê quán: Đồng Nai Gia đình: Nhạc...

Top 3 ca khúc hay nhất của nhạc sĩ Thanh Bình
Top 3 ca khúc hay nhất của nhạc sĩ Thanh Bình
[ad_1] Nhạc sĩ Thanh Bình sáng tác không nhiều, nhưng mỗi bài hát ông viết ra đều là những lời gan ruột, từng nốt nhạc vang lên đều đong đầy...

Hoàn cảnh ra đời ca khúc “Khúc hát ân tình”: Lời kêu gọi đoàn kết Bắc Nam
Hoàn cảnh ra đời ca khúc “Khúc hát ân tình”: Lời kêu gọi đoàn kết Bắc Nam
[ad_1] "Khúc hát ân tình" không đề cập đến một mối tình cụ thể mà mang tính biểu tượng, kêu gọi con người sống thân ái và ca ngợi tình...

Hoàn cảnh ra đời ca khúc “Hướng về Hà Nội”: Da diết nỗi nhớ thủ đô và mối tình dang dở
Hoàn cảnh ra đời ca khúc “Hướng về Hà Nội”: Da diết nỗi nhớ thủ đô và mối tình dang dở
[ad_1]   Hoàn cảnh sáng tác ca khúc Hướng về Hà Nội   Ca khúc Hướng về Hà Nội có hoàn cảnh sáng tác khá đặc biệt. Trong một lần trả...

Ca sĩ Nguyễn Cao Kỳ Duyên: Từ ca sĩ nhạc trữ tình đến nữ MC đình đám duyên dáng như tên
Ca sĩ Nguyễn Cao Kỳ Duyên: Từ ca sĩ nhạc trữ tình đến nữ MC đình đám duyên dáng như tên
[ad_1] HỒ SƠ - TIỂU SỬ CA SĨ NGUYỄN CAO KỲ DUYÊN Tên thật: Nguyễn Cao Kỳ Duyên     Nghệ danh: Nguyễn Cao Kỳ Duyên hoặc Kỳ Duyên Ngày...

Nhạc sĩ Song Ngọc: Sống tận hiến với cuộc đời nghệ thuật đầy rực rỡ
Nhạc sĩ Song Ngọc: Sống tận hiến với cuộc đời nghệ thuật đầy rực rỡ
[ad_1] HỒ SƠ TIỂU SỬ NHẠC SĨ SONG NGỌC Tên thật: Nguyễn Ngọc Thương Nghệ danh: Song Ngọc, Hàn Sinh, Nguyên Hà, Hoàng Ngọc Anh, Anh Tuyến và Phương Sinh...