Vì sao ban nhạc anh chị em nhà họ Phạm lại chọn cái tên “Thăng Long”?


Thông tin cơ bản về ban hợp ca Thăng Long

  • Thành lập: 1949 tại Hà Nội
  • Thể loại: Nhạc tiền chiến
  • Hoạt động sôi nổi: Thập niên 1950
  • Ca khúc tiêu biểu: Ly rượu mừng
  • Thành viên: Trước 1975: Hoài Trung, Hoài Bắc, THái Hằng, Thái Thanh, Phạm Duy; Khánh Ngọc; Sau 1975: Mai Hương, Quỳnh Giao

Ban hợp ca Thăng Long là một ban nhạc gia đình, được thành lập vào năm 1949 tại Hà Nội với 3 tên tuổi nòng cốt và sau này trở thành bất tử: Ca sĩ Hoài Bắc (tức nhạc sĩ Phạm Đình Chương), danh ca Thái Thanh và ca sĩ Hoài Trung (tức Phạm Đình Viên).

Trong 3 người này, ca sĩ Hoài Trung là kém danh tiếng nhất. Nhưng trong lòng khán giả vẫn không thể quên được một giọng tenor với phong cách trình diễn đặc biệt, tiếng hát ngân dài và có khả năng giả tiếng ngựa hí hoặc các âm thanh khác khi hát bè trong hợp ca. Hoài Trung cũng có tài chọc cười nên mỗi khi ông xuất hiện trên sân khấu là khán giả được phen cười ồ. Ông cũng là một diễn viên tham gia trong nhiều phim điện ảnh và thoại kịch.



vi-sao-ban-nhac-anh-chi-em-nha-ho-pham-lai-chon-cai-ten-thang-long-9
3 cái tên nòng cốt của ban nhạc Thăng Long: Hoài Trung, Hoài Bắc, Hoài Thanh

Ngoài 3 nhân vật chủ chốt này, thỉnh thoảng ban hợp ca Thăng Long cũng có sự góp mặt của danh ca Thái Hằng, ca sĩ Khánh Ngọc (vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương) và cả nhạc sĩ Phạm Duy (chồng danh ca Thái Hằng).

Các thành viên trong ban nhạc (dù là nòng cốt hay thỉnh thoảng góp mặt) đều là anh chị em họ Phạm (hoặc dâu rể). Thân phụ của họ là cụ Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cụ Phụng sinh được 2 người con là Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm (tức Hoài Trung của ban Thăng Long) và một người con gái không may yểu mệnh khi di tản ở Sơn Tây.

Người vợ thứ hai của cụ Phạm Đình Phụng sinh được 3 người con là: Trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái (tức danh ca Thái Hằng – vợ nhạc sĩ Phạm Duy); Người con thứ hai là Phạm Đình Chương (ca sĩ Hoài Bắc); Người con út là Phạm Thị Băng Thanh (danh ca Thái Thanh).

Khi chuyển vào phương Nam sinh sống và hoạt động nghệ thuật, họ muốn lập một ban nhạc gia đình để đi hát. Họ đi đến quyết định chọn cái tên Thăng Long để gợi nhớ về vùng đất Hà Nội – nơi cố hương, chôn rau cắt rốn của họ. Cái tên Thăng Long cũng gắn liền với thanh xuân của anh chị em nhà họ Phạm ở vùng tản cư.



vi-sao-ban-nhac-anh-chi-em-nha-ho-pham-lai-chon-cai-ten-thang-long-7

Giải thích cặn kẽ hơn về cái tên Thăng Long thì cần ngược dòng thời gian về những năm đầu thập niên 1940, khi cụ Phạm Đình Phụng còn ở Hà Nội. Năm ấy, cụ Phụng mở một cửa hàng bán mứt và ô mai trên phố Bạch Mai lấy tên Mai Lộc. Thuở đó, có một cậu bé mới 13 tuổi tên là Nguyễn Cao Kỳ thường đến Mai Lộc để ăn ô mai, đánh đàn mandoline với Phạm Đình Chương 14 tuổi và Thái Thanh 9 tuổi thường ngồi một bên để nghe mấy ông anh dạo đàn, thỉnh thoảng còn bị Phạm Đình Chương bắt hát để họ luyện đàn. Nguyễn Cao Kỳ sau đó thành tướng không quân, rồi phó tổng thống, nhưng luôn giữ một tình bạn đẹp thuở thiếu thời với nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

Năm 1946, bắt đầu thời kỳ loạn lạc, nhiều gia đình Hà Nội phải dắt díu nhau đi tản cư. Cụ Phạm Đình Phụng cùng 2 người con trai, 3 người con gái di tản ra vùng Sơn Tây, sau đó dừng chân ở Chợ Đại (lúc này người con trai đầu là Phạm Đình Sỹ và vợ Kiều Hạnh, các con Mai Hương, Bạch Tuyết cũng từ Huế ra miền thượng du phía Bắc).

Ở Chợ Đại, cụ Phụng mua lại một cái quán nhỏ, đặt tên là “Quán Thăng Long”. Quán này chuyên bán phở và cà phê. Trong những người con của cụ Phụng có cô Thái (danh ca Thái Hằng) rất xinh đẹp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến giới văn nghệ sĩ thường xuyên đến quán (có người nói, sau này, Thái Hằng và quán cà phê Thăng Long trở thành nhân vật chính trong ca khúc “Cô hàng cà phê” của nhạc sĩ Canh Thân).

Nhắc về quán Thăng Long và Thái Hằng, trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Phạm Duy viết: “Tại quán Thăng Long, ông bà có ba người con để giúp đỡ việc nấu phở, pha cà phê và tiếp khách. Người con gái lớn tên Phạm Thị Quang Thái, vào trạc 20 tuổi, biết hát và biết chơi cả đàn guitar hawaienne nữa. Nàng có một vẻ đẹp rất buồn, lại là người ít nói, lúc nào cũng như đang mơ màng nghĩ tới một chuyện gì xa xưa. Văn nghệ sĩ nào khi tới gần nàng thì cũng đều bị ngay một cú sét đánh. Thi sĩ Huyền Kiêu luôn luôn thích làm người tao nhã (galant) và có nhiều lúc, trịnh trọng cầm hoa tặng Nàng. Thi sĩ Đinh Hùng, rụt rè hơn, nhờ người chị ruột của tôi – đang tản cư ở Chợ Đại – làm mối. Còn anh họa sĩ hiền lành như bụt và có đôi mắt rất xanh là Bùi Xuân Phái thì ngày ngày tới quán Thăng LOng, ngồi đó rất lâu, im lặng… Ngồi, nhìn, chứ không vẽ. Ngọc Bích cũng soạn một bài tỏ tình…”.



vi-sao-ban-nhac-anh-chi-em-nha-ho-pham-lai-chon-cai-ten-thang-long-6
Thái Thanh bên các thành viên của hợp ca Thăng Long, gồm: nhạc sĩ Phạm Duy (trái, hàng trên) – anh rể, nhạc sĩ Phạm Đình Chương (giữa) – anh trai, Phạm Đình Viêm – anh trai, ca sĩ Thái Hằng (trái, hàng dưới) – chị gái và ca sĩ Khánh Ngọc (giữa) – chị dâu

Chỉ một vài năm sau đó, tất cả các anh chị em họ Phạm (Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Thái Thanh (lúc này đi hát tên Băng Thanh) gia nhập các ban văn nghệ quân đội Việt Minh của Liên khu IV, vợ chồng chủ quán Thăng Long quyết định rời khỏi Chợ Đại vào Thanh Hóa để được sống gần các con. Vợ chồng cụ Phụng dừng chân ở Chợ Neo, thuê một căn nhà lá, mở quán phở. Quán phở này vẫn lấy tên là “Quán Thăng Long”.

Tháng 5/1951, gia đình họ Phạm về Hà Nội. Lúc này Phạm Duy và Thái Hằng đã là vợ chồng. Đi cùng còn có gia đình Phạm Đình Sỹ – Kiều Hạnh. Chỉ một tháng sau, đại gia đình Thăng Long quyết định vào Sài Gòn để định cư. Ở đây, anh em họ Phạm (Phạm Đình Viên, Phạm Đình Chương, THái Thanh) thành lập ban nhạc hợp ca Thăng Long. Tên ban nhạc được đặt theo tên quán phở ở vùng Chợ Đại, Chợ Neo trước đây.

Cũng vì lưu luyến, nhớ nhung những kỷ niệm xưa, vùng đất xưa mà Phạm Đình Viêm lấy nghệ danh là Hoài Trung để nhớ về Khu 4, Phạm Đình Chương lấy nghệ danh là Hoài Bắc để nhớ về cố xứ. Cô em út Băng Thanh đổi nghệ danh thành Thái Thanh cho giống với chị gái Thái Hằng.

Tại vùng đất hứa Sài Gòn, ban Thăng Long nhanh chóng nhận được yêu mến của công chúng và giới văn nghệ sĩ. Họ đạt được thành công với lối hát khác biệt, có phần bè mới lạ và hấp dẫn. Họ lại có nguồn nhạc phong phú được sáng tác đến từ các thành viên trong gia đình, đó là hai tên tuổi lừng lẫy: Phạm Duy và Phạm Đình Chương. Ngoài thù lao hát đài phát thanh, phòng trà, ban Thăng Long kiếm sống chủ yếu bằng tiền thu thanh đĩa nhạc…



Theo Amnhac.net

Các bài viết khác:
Ca sĩ Khánh Hà: Giọng ca nội lực của làng nhạc nhẹ đầy nữ tính và quyến rũ, hát 20 bài không phải lấy hơi
Ca sĩ Khánh Hà: Giọng ca nội lực của làng nhạc nhẹ đầy nữ tính và quyến rũ, hát 20 bài không phải lấy hơi
[ad_1] HỒ SƠ - TIỂU SỬ CA SĨ KHÁNH HÀ Tên thật: Lữ Thị Khánh Hà. Nghệ danh: Khánh Hà. Ngày sinh: 28/02/1952. Quê quán: Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Ca...

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ: Từ “người tiên phong” đến “cây đại thụ” của dòng nhạc vàng Việt Nam
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ: Từ “người tiên phong” đến “cây đại thụ” của dòng nhạc vàng Việt Nam
[ad_1] HỒ SƠ NHẠC SĨ HOÀNG ANH THƠ Tên thật: Hoàng Thi Thơ Nghệ danh: Hoàng Thi Thơ, Tôn Nữ Trà My, Tôn Nữ Diễm Hồng, Bích Khê và Triệu...

Top 4 bài hát chính ca tiêu biểu nhất của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước
Top 4 bài hát chính ca tiêu biểu nhất của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước
[ad_1] Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước là "cha đẻ" của các bài hát chính ca xuất sắc, có tầm tư tưởng lớn, giá trị nghệ thuật cao và giá trị...

Nghệ sĩ Thành Được và “sầu nữ” Bạch Lan: Cuộc “hôn thơ giá thú” đầu tiên trong giới nghệ sĩ tan vỡ vì “máu hoạn thư”?
Nghệ sĩ Thành Được và “sầu nữ” Bạch Lan: Cuộc “hôn thơ giá thú” đầu tiên trong giới nghệ sĩ tan vỡ vì “máu hoạn thư”?
[ad_1] Khi đứng chung một sân khấu, hai cái tên Thành Được - Út Bạch Lan được xem như biểu tượng khó có thể thay thế của nghệ thuật cải...

Những ngày cuối đời quạnh quẽ của nhạc sĩ Trúc Phương
Những ngày cuối đời quạnh quẽ của nhạc sĩ Trúc Phương
[ad_1] Năm 2015, để tưởng niệm 20 năm ngày mất của “ông hoàng bolero” – Trúc Phương, nhà báo Trần Quốc Bảo đã viết về những kỷ niệm khó quên...

Cảm nhận về những bức tranh màu sắc trong âm nhạc Phạm Duy thập niên 1948 – 1958
Cảm nhận về những bức tranh màu sắc trong âm nhạc Phạm Duy thập niên 1948 – 1958
[ad_1] Nhìn vào gia tài âm nhạc của Phạm Duy, ai chẳng giật mình. Tổng cộng vượt quá con số ngàn. Những đứa con tinh thần của ông được nuôi...

Ca khúc “Chỉ chừng đó thôi” – lời tụng ca dành cho mối tình thơ nhạc trong sáng nhất đời Phạm Duy
Ca khúc “Chỉ chừng đó thôi” – lời tụng ca dành cho mối tình thơ nhạc trong sáng nhất đời Phạm Duy
[ad_1] CA KHÚC "CHỈ CHỪNG ĐÓ THÔI" Tên ca khúc: Chỉ chừng đó thôi Nhạc sĩ sáng tác: Phạm Duy Thể loại: Trữ tình Năm sáng tác: 1975 Ca sĩ...

Phải chăng nhạc sĩ Phạm Đình Chương viết “Nửa hồn thương đau” vì bị phụ bạc?
Phải chăng nhạc sĩ Phạm Đình Chương viết “Nửa hồn thương đau” vì bị phụ bạc?
[ad_1] Có không ít ý kiến cho rằng, ca khúc "Nửa hồn thương đau" là sản phẩm được viết sau nhiều năm đau đớn, giằng xé vì bị vợ -...

NHỊP LẤY ĐÀ LÀ GÌ? VÍ DỤ VỀ NHỊP LẤY ĐÀ
NHỊP LẤY ĐÀ LÀ GÌ? VÍ DỤ VỀ NHỊP LẤY ĐÀ
[ad_1] Nhịp lấy đà là gì? Nhịp lấy đà là ô nhịp đầu tiên trong bản nhạc không đủ số phách theo quy định của số chỉ nhịp. Sự khác nhau...

Ca khúc “Xóm đêm” của Phạm Đình Chương: Bức tranh tả thực đời sống nghèo khó bên cạnh phồn hoa đô thị
Ca khúc “Xóm đêm” của Phạm Đình Chương: Bức tranh tả thực đời sống nghèo khó bên cạnh phồn hoa đô thị
[ad_1] CA KHÚC "XÓM ĐÊM" Sáng tác: Phạm Đình Chương Thể loại: Nhạc quê hương Năm ra đời: 1955 Ca sĩ thể hiện tiêu biểu: Thái Thanh và Ban hợp...

Niềm dự cảm về cuộc đời đầy biến cố của nhạc sĩ Lam Phương qua ca khúc “Xin thời gian qua mau”
Niềm dự cảm về cuộc đời đầy biến cố của nhạc sĩ Lam Phương qua ca khúc “Xin thời gian qua mau”
[ad_1] CA KHÚC “XIN THỜI GIAN QUA MAU” Tên các khúc: Xin thời gian qua mau Nhạc sĩ sáng tác: Lam Phương Năm phát thành: thập niên 1960 Ca sĩ...

Nhạc sĩ Hoàng Quý: Người tài mệnh yểu đã đi cùng dân tộc đến hơi thở cuối cùng
Nhạc sĩ Hoàng Quý: Người tài mệnh yểu đã đi cùng dân tộc đến hơi thở cuối cùng
[ad_1] HỒ SƠ TIỂU SỬ NHẠC SĨ HOÀNG QUÝ Tên thật: Hoàng Kim Hải sau đổi thành Hoàng Kim Quý Nghệ danh: Hoàng Quý Năm sinh: 1920 Năm mất: 1946...

Nhạc sĩ Hoàng Giác và giấc “Mơ hoa” thơm ngát sang cả cõi vĩnh hằng
Nhạc sĩ Hoàng Giác và giấc “Mơ hoa” thơm ngát sang cả cõi vĩnh hằng
[ad_1] HỒ SƠ TIỂU SỬ NHẠC SĨ HOÀNG GIÁC Tên thật: Hoàng Giác Năm sinh - năm mất: 1924 - 2017 Quê quán: Hà Nội Gia đình: 1 vợ và...

Người vợ tào khang của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và màn “đánh ghen” đầy kiêu hãnh khiến “tiểu tam” tỉnh mộng, vội vã đi lấy chồng
Người vợ tào khang của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và màn “đánh ghen” đầy kiêu hãnh khiến “tiểu tam” tỉnh mộng, vội vã đi lấy chồng
[ad_1] Vợ nhạc sĩ Đoàn Chuẩn là bà Nguyễn Thị Xuyên, một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, gia đình tuy không thuộc hàng trâm anh thế phiệt nhưng...

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà và cuộc hôn nhân cuối cùng: Đổ vỡ vì cá tính nghệ sĩ quá mạnh?
Nhạc sĩ Lê Hựu Hà và cuộc hôn nhân cuối cùng: Đổ vỡ vì cá tính nghệ sĩ quá mạnh?
[ad_1] Ở thập niên 1970, khi mà làng nhạc trẻ Sài Gòn đa phần là các ban nhạc nước ngoài hoặc hát lời Việt nhạc ngoại thì Lê Hựu Hà...